1. admin

    admin Administrator Staff Member GÂY DỰNG

    Bài viết:
    8,977
    Nhận Likes:
    624
    Ratings:
    +676 / 15 / -27
    Sử dụng đèn flash cso thể mở rộng phạm vi và tăng cường hình ảnh cho đối tượng chụp. Tuy nhiên, đèn flash cũng là một trong những vấn đề khó hiểu nhất và được sử dụng sai mục đích nhiều nhất trong các dụng cụ nhiếp ảnh. Trong thực tế, hình ảnh flash tốt nhất thường là ảnh mà chúng ta thậm chí không biết rằng có sử dụng thêm đèn flash. Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu các thuật ngữ kỹ thuật để tập trung vào thực chất của đèn flash trong nhiếp ảnh: làm thế nào để kiểm soát ánh sáng và sử dụng nó để đạt được phơi sáng mong muốn.

    Phần một của bài viết này tập trung vào chất lượng và tác dụng của đèn Flash khi đánh sáng; trong phần này sẽ tập trung vào việc cài đặt trên máy để đạt được mục đích.

    Tổng quan về việc đánh sáng của Flash

    Sử dụng đèn flash về cơ bản là khác hoàn toàn khi chụp bình thường vì lúc đó đối tượng được chiếu bởi hai nguồn sáng: flash (nguồn sáng chúng ta có thể điều chỉnh được), và ánh sáng xung quanh (nằm ngoài khả năng điều chỉnh). Trong phần này chúng ta sẽ tập trung vào hai kết quả của sự kết hợp hai nguồn sáng này:

    flash2_shutterdiagram.png
    Sơ đồ minh hoạ tuần tự phơi sáng đánh flash


    • Chụp ảnh với flash, đối tượng được chiếu sáng bởi hai nguồn sáng riêng biệt: Một là ánh sáng xung quanh và hai là từ flash. Hai kết quả phơi sáng này xảy ra vào giữa thời gian khi bạn giữ nút chụp và khi màn trập mở ra. Với các dòng máy DLSR mới hơn, máy còn đánh sáng trước một phần để ước tính cường độ thực tế cần thiết khi đánh flash để chụp ảnh.
    • Một xung flash đánh sáng trong thời gian rất ngắn khi so sánh với thời gian phơi sáng, có nghĩa là lượng sáng flash bắt được bởi máy ảnh phụ thuộc vào tốc độ chụp. Trong khi đó khẩu độ và ISO ảnh hưởng bởi đèn flash và ánh sáng xung quanh là như nhau.
    Điều quan trọng là biết làm thế nào để đạt được sự kết hợp ánh sáng flash và ánh sáng xung quanh như mong muốn, để đón nhận được lượng sáng tổng thể như mong muốn.

    Khái niệm: Tỉ lệ flash

    Tỉ lệ flash là một thước đo quan trọng để mô tả sự kết hợp giữa ánh sáng môi trường xung quanh và flash. Do tốc độ chụp không bị ảnh hưởng bởi lượng sáng thu được từ đèn flash (nhưng lại bị ảnh hưởng bởi ánh sáng xung quanh), nên cần phải sử dụng tỉ lệ này để điều chỉnh ánh sáng flash. Với một lượng sáng của môi trường xung quanh, sự pha trộn với ánh sáng flash được điều chỉnh bởi hai cài đặt: (i) thời gian phơi sáng, và (ii) cường độ đèn flash.
    [TABLE="class: grid, width: 600, align: center"]
    <tbody>[TR]
    [TD][/TD]
    [TD="align: center"] flash2_flashratio1.png [/TD]
    [TD="align: center"] flash2_flashratio2.png [/TD]
    [TD="align: center"] flash2_flashratio3.png [/TD]
    [TD="align: center"] flash2_flashratio4.png [/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]Tỉ lệ flash[/TD]
    [TD="align: center"]N/A hoặc 0[/TD]
    [TD="align: center"]1:8 - 1:2[/TD]
    [TD="align: center"]1:1[/TD]
    [TD="align: center"]2:1 - 8:1[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"][/TD]
    [TD="align: center"]chỉ có ánh sáng môi trường[/TD]
    [TD="align: center"]Fill Flash (công sáng)[/TD]
    [TD="align: center"]Cần bằng[/TD]
    [TD="align: center"]Flash mạnh[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]Cài đặt[/TD]
    [TD="align: center"]không mở flash[/TD]
    [TD="align: center"]Phơi sáng lâu nhất
    Flash yếu nhất[/TD]
    [TD="align: center"]Phơi sáng ngắn hơn
    Flash yếu hơn[/TD]
    [TD="align: center"]Phơi sáng ngắn nhất
    Flash mạnh nhất[/TD]
    [/TR]
    </tbody>[/TABLE]

    Trong bài này, tỉ lệ flash được sử dụng để mô tả tỉ lệ giữa ánh sáng từ đèn flash và môi trường xung quanh. Thỉnh thoảng tỉ lệ này còn được mô tả như tỉ lệ giữa tổng các nguồn sáng và nguồn flash. Trong trường hợp này các tỉ lệ 2:1, 3:1 và 5:1 có giá trị tỉ lệ flash tương ứng là: 1:1, 1:2, và 1:4.

    Một điều quan trọng cũng cần lưu ý rằng không phải tất cả các tỉ lệ đều nhất thiết cho kết quả trộn tương ứng. Ví dụ như nếu ánh sáng môi trường xung quanh quá mạnh, hoặc khi flash quá xa đối tượng. Hoặc một trường hợp khác là khi ánh sáng môi trường xung quanh quá yếu và ống kính không đủ khẩu rộng để mở tối đa thì đánh flash 1:8 cũng không có ý nghĩa gì.

    Tỉ lệ 1:2 hoặc lớn hơn có thể là một tỉ lệ tốt nhất để bắt đầu chụp, nhưng cũng phải xem xét đến vị trí và khu vực chiếu sáng do ánh sáng từ nguồn flash là khá cứng. Và hầu hết các nhiếp ảnh gia đều sử dụng nguồn sáng flash để làm nguồn công sáng (fill flash) chứ ít khi sử dụng làm nguồn sáng chính.

    Chế độ phơi sáng của flash

    Một trong những công việc khó khăn nhất khi chụp ảnh với flash đó là hiểu sự khác nhau giữa việc đo sáng của các chế độ chụp khi có flash. Một vài chế độ giả sử người chụp chỉ muốn công sáng, trong khi một số chế độ khác bỏ qua ánh sáng xung quanh và cho rằng nguồn sáng từ đèn flash là nguồn sáng chính.

    May mắn là tất cả các máy ảnh sử dụng đèn flash hoặc là nguồn sáng chính hoặc là nguồn công sáng. Điều quan trọng là biết khi nào và lý do tại sao máy ảnh sử dụng chức năng đó của đèn flash. Bảng sau đây tổng hợp các chế độ phổ biến nhất trên máy ảnh và việc sử dụng nguồn sáng flash ở các chế độ đó:

    [TABLE="class: grid, width: 600, align: center"]
    <tbody>[TR]
    [TD="align: center"]Chế độ chụp[/TD]
    [TD="align: center"]Tỉ lệ Flash[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]Tự động - Auto[/TD]
    [TD]1:1 hoặc lớn hơn nếu thiếu sáng (flash là nguồn sáng chính); nếu không thì flash sẽ không đánh[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]Program (P)[/TD]
    [TD]Nếu ánh sáng xung quanh đủ sáng thì sẽ dùng flash như nguồn công sáng; ngược lại tỉ lệ sẽ lớn hơn 1:1 (flash là nguồn sáng chính)[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD]
    Aperture Priority (Av)
    Shutter Priority (Tv)​
    [/TD]
    [TD]Công sáng (fill flash) - Nguồn sáng phụ[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]Manual (M)[/TD]
    [TD]Tỉ lệ flash do người chụp quyết định[/TD]
    [/TR]
    </tbody>[/TABLE]
    Ở chế độ Tự động (Auto), đèn flash sẽ tự động đánh sáng khi tốc độ chụp thấp hơn giá trị cho phép (thường là 1/60 giây). Tỉ lệ flash được tăng dần khi ánh sáng chiếu vào đối tượng mờ hơn, để đảm bảo tốc độ chụp vẫn còn là 1/60 giây.

    Ở chế độ P cũng tương tự như chế độ Auto, ngoại trừ khi người chụp ép buộc sử dụng flash thì nó được sử dụng như nguồn công sáng. Hầu hết các máy ảnh đủ thông minh để giảm nguồn công sáng khi ánh sáng môi trường xung quanh tăng (gọi là "auto fill reduction" ở các dòng máy ảnh Canon). Do đó, tỉ lệ công sáng có thể từ 1:1 (trong ánh sáng mờ) đến 1:4 (trong ánh sáng sáng hơn). Trong trường hợp tốc độ chụp dài hơn 1/60 giây, flash trong chế độ P hoạt động tương tự như chế độ Auto.

    Chế độ Av và Tv lại khác hoàn toàn. Giống như chế độ P là người chụp phải ép buộc sử dụng flash, và lúc đó flash được sử dụng là nguồn công sáng. Tuy nhiên, không giống như chế độ Auto và P, tỉ lệ flash không bao giờ tăng quá tỉ lệ 1:1. Trong chế độ Tv, tỉ lệ flash có thể tăng nếu cần thiết phải cài đặt f-stop nhỏ hơn khả năng của ống kính.

    Trong chế độ M, máy ảnh phơi sáng ở các chế độ được thiết lấp, do đó tỉ lệ flash cũng được người chụp tính toán cần thiết theo nhu cầu, do đó tại chế độ này tỉ lệ flash có khoảng giá trị rộng hơn các chế độ khác, và việc sử dụng như thế nào là do người chụp quyết định.

    Trong tất cả các chế độ chụp, khi xem qua kính ngắm sẽ thấy có dấu hiệu nhấp nháy khi sử dụng flash. Điều này có nghĩa là khẩu độ hiện đang dùng ở ngoài khả năng hiện tại của ống kính, hoặc tốc độ chụp nhanh hơn hệ thống flash có thể hỗ trợ (gọi là "X-sync speed", thường là từ 1/200 đến 1/500 giây).

    Bù Flash - FEC (Flash Exposure Compensation)

    Chìa khoá để sử dụng đúng tỉ lệ Flash đó là sử dụng kết hợp bù flash (FEC - Flash Exposure Compensation) và bù sáng (EC - Exposure Compensation) hợp lý. Về cơ bản, FEC hoạt động giống như EC: FEC thiết lập cường độ sáng flash như thế nào. Sự khác nhau đó là EC bị ảnh hưởng bởi cả ánh sáng flash và ánh sáng môi trường xung quanh, trong khi FEC chỉ ảnh hưởng đến cường độ của đèn flash.

    Cả EC và FEC được quy định cụ thể bằng giá trị stop of light. Mỗi giá trị stop dương hoặc âm tương ứng với việc gấp đôi hoặc giảm đi 1/2 ánh sáng tương ứng. Do đó, +1 EC hoặc FEC có nghĩa là gấp đôi lượng sáng, còn -2 có nghĩa là giảm đi 4 lần.

    Vấn đề ở đây là việc phức tạp khi kết hợp cả hai EC và FEC để thay đổi tỉ lệ flash mà không làm thay đổi độ phơi sáng tổng thể của hình ảnh cuối cùng. Bảng sau đây tóm tắt thay đổi tỉ lệ flash như thế nào khi giữ nguyên tỉ lệ gốc là 1:1:
    [TABLE="width: 600, align: center"]
    <tbody>[TR]
    [TD="align: right"] flash2_flashratio2.png [/TD]
    [TD="align: center"] flash2_flashratio3.png [/TD]
    [TD="align: left"] flash2_flashratio4.png [/TD]
    [/TR]
    </tbody>[/TABLE]

    [TABLE="class: grid, width: 600, align: center"]
    <tbody>[TR]
    [TD="align: center"]Tỉ lệ Flash[/TD]
    [TD="align: center"]1:8[/TD]
    [TD="align: center"]1:4[/TD]
    [TD="align: center"]1:2[/TD]
    [TD="align: center"]1:1[/TD]
    [TD="align: center"]2:1[/TD]
    [TD="align: center"]4:1[/TD]
    [TD="align: center"]8:1[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]FEC Setting[/TD]
    [TD="align: center"]-3[/TD]
    [TD="align: center"]-2[/TD]
    [TD="align: center"]-1[/TD]
    [TD="align: center"]0[/TD]
    [TD="align: center"]+1[/TD]
    [TD="align: center"]+2[/TD]
    [TD="align: center"]+3[/TD]
    [/TR]
    [TR]
    [TD="align: center"]EC Setting[/TD]
    [TD="align: center"]+2/3 đến +1[/TD]
    [TD="align: center"]+2/3[/TD]
    [TD="align: center"]+1/3 đến +1/2[/TD]
    [TD="align: center"]0[/TD]
    [TD="align: center"]-1/2 đến -2/3[/TD]
    [TD="align: center"]-4/3 (-1 1/3)[/TD]
    [TD="align: center"]-2 đến -2 1/3[/TD]
    [/TR]
    </tbody>[/TABLE]
    Chú ý rằng giá trị FEC khá đơn giản, nó tương ứng với số stop người chụp muốn tăng hoặc giảm tỉ lệ flash. Trong khi đó cài đặt các giá trị EC không đơn giản như FEC, nó không chỉ phụ thuộc vào tỉ lệ flash người chụp muốn thay đổi như thế nào mà còn phụ thuộc vào tỉ lệ gốc ban đầu, và nó thường ít khi là số nguyên.

    Ví dụ tại sao EC lại phức tạp hơn FEC: Khi người chụp thay đổi tỉ lệ từ 1:1 sang 2:1, đầu tiên cần cài đặt FEC giá trị +1, nhưng nếu chỉ tăng FEC thì lượng sáng của flash tăng gấp đôi trong khi ánh sáng xung quanh vẫn giữ nguyên, nên sẽ tăng lượng phơi sáng tổng thể. Do đó, cần phải bù âm EC để tổng lượng phơi sáng không đổi. Nhưng giảm EC bao nhiêu là đủ? Do tỉ lệ Flash gốc ban đầu là 1:1, khi tăng FEC lên +1 tức là tổng lượng sáng hiện tại sẽ là 150% so với ban đầu. Do đó cần sử dụng giá trị EC là 2/3 (150% * 2/3 = 100%).

    Làm thế nào để tăng tỉ lệ flash? Tăng giá trị FEC, trong khi giảm giá trị EC. Giả sử tỉ lệ mặc định là 1:1, muốn đạt được tỉ lệ 2:1 (flash tăng gấp đôi), tương ứng với việc tăng FEC lên giá trị +1, và giảm giá trị EC xuống -1/2 hoặc -2/3.

    Làm thế nào để giảm tỉ lệ flash? Giảm giá trị FEC, trong khi tăng giá trị EC (nhưng không vượt qua +1). Giả sử tỉ lệ flash mặc định là 1:1, để đạt được tỉ lệ 1:2, cần giảm FEC xuống -1 và tăng EC lên giá trị +1/3 đến +1/2 tương ứng.

    Cuối cùng, chú ý quan trọng là FEC không phải lúc nào cũng được dùng để thay đổi tỉ lệ flash. Mà nó được dùng để sửa lỗi đo sáng của máy ảnh. Như thế nào và tại sao sẽ được trình bày trong phần tiếp theo.

    Đo sáng TTL Flash

    Hầu hết các hệ thống flash của máy ảnh hiện nay sử dụng hình thức đo sáng TTL (Thought The Lens). Hình thức TTL làm việc bằng cách bật flash một hoặc vài lần trước khi bắt đầu chụp, cách này được dùng để ước tính cường độ flash cần thiết được dùng trong quá trình phơi sáng cuối cùng.

    flash2_preflashdiagram.png

    Ngay sau khi phơi sáng bắt đầu, flash bắt đầu phát sáng. Máy ảnh sẽ đón nhận ánh sáng phản xạ của flash ngay lập tức, và dừng đèn một số lần cần thiết để đạt được lượng sáng phát ra. Phụ thuộc vào chế độ chụp, đèn flash sẽ được tắt nếu nó cân bằng với ánh sáng xung quanh khi ở chế độ công sáng, hoặc bổ sung thêm sáng cần thiết để chiếu sáng đối tượng (khi tỉ lệ flash lớn hơn 1:1).

    Tuy nhiên, có thể quá trình trên sẽ sai. Do quá trình phơi sáng thực sự gồm hai phần liên tục: (1) đo sáng ánh sáng xung quanh, và (2) đo sáng flash. Do đó chúng ta sẽ đi từng phần lỗi riêng biệt ở mỗi phần.

    (1) Đo sáng ánh sáng môi trường xung quanh thực hiện trước tiên, và xác định các thông số khẩu độ, ISO và tốc độ. Điều này rất quan trọng vì nó kiểm soát quá trình phơi sáng tổng thể, và là cơ sở để quá trình đo sáng flash tiếp theo dựa vào.

    Quay lại vấn đề đo sáng, máy ảnh chỉ đo sáng ánh sáng phản xạ chứ không thể đo sáng ánh tới trực tiếp (mời bạn xem lại chi tiết nội dung đo sáng).

    flash1.png

    Ví dụ như hình ảnh trên, máy ảnh sẽ đo sáng sai do đối tượng khá sáng và có tính tương đồng với môi trường xung quanh, ánh sáng này máy ảnh lại cho rằng đó là kết quả của ánh sáng tới, nên đo sáng sẽ ước tính giá trị cao hơn thực tế ánh sáng, kết quả là hình ảnh sẽ phơi sáng thiếu. Tương tự khi chụp đối tượng tối (con chó đen ngồi trên đống than) sẽ khiến ảnh phơi sáng thừa. Hơn nữa, với các trường hợp ánh sáng high-key hay low-key hệ thống đo sáng của máy ảnh cũng không đúng nữa (xem chi tiết ở nội dung Histogram).

    Lưu ý: khi chụp ảnh cưới váy cưới màu trắng và bộ tuxedo màu đen là những ví dụ hoàn hảo cho các đối tượng chụp có độ tương phản thấp và cao khiến cho hệ thống đo sáng tính sai, do đó chụp ảnh cưới với flash và tính toán độ phơi sáng chính xác là điều quan trọng nhất. Bất kể là hệ thống đo sáng không chính xác, thì điều chỉnh bù sáng EC sẽ sữa chữa lỗi ánh sáng môi trường xung quanh và cải thiện đo sáng flash cùng một lúc.

    (2) đo sáng flash dựa trên kết quả kết hợp ánh sáng môi trường xung quanh và đánh sáng flash để xác định. Nếu hệ thống đo sáng TTL flash phát ra một lượng flash không đúng, thì không chỉ khiến mức phơi sáng tổng thể sai, mà tỉ lệ flash cũng sai nốt.

    Nguyên nhân lớn nhất đối với lỗi đo sáng flash là khoảng cách đến đối tượng, sự phân bố ánh sáng của môi trường xung quanh và tính phản xạ ánh sáng của đối tượng. Trong đó khoảng cách đến đối tượng là quan trọng nhất bởi vì nó xác định bao nhiêu lượng ánh sáng flash sẽ đến đối tượng và phản xạ trở lại từ đối tượng:

    flash2_distance.png
    Khoảng cách và tác động của flash

    Ngay cả khi đánh sáng flash đúng, các khu vực ở gần máy ảnh hơn sẽ sáng hơn các khu vực ở xa.

    Ngoài ra, khi đo sáng flash xảy ra sau khi máy ảnh đo sáng môi trường xung quanh, điều quan trọng là không được dùng chế độ Auto Exposure Lock (AE Lock) khi sử dụng kỹ thuật lấy nét & điều chỉnh lại khung hình. Nếu có, hãy dùng chế độ Flash Exposure Lock.

    Hơn nữa, đối với mỗi nhà sản xuất, hệ thống đo sáng của mỗi hãng khác nhau. Canon có E-TTL hoặc E-TTL II; Nikon có D-TTL hoặc i-TTL. Mỗi hệ thống có một thuật toán và độ phức tạp riêng, sự khác biệt chỉ xảy ra trong các tình huống ánh sáng môi trường xung quanh không đồng đều. Do đó, cách tiếp cận tốt nhất là phải trải nghiệm mỗi hệ thống với những trường hợp đo sáng có thể phát sinh lỗi. Vì bài viết này chỉ đề cập các vấn đề chung, nên chúng tôi không đi sâu vào từng loại và từng hãng.

    Flash là một nội dung khó trong nhiếp ảnh. Do đó chúng tôi sẽ bổ sung thêm những bài viết cần thiết để giúp bạn đọc hiểu hơn.

    Đây là một nội dung trong loạt bài viết cùng tìm hiểu và nâng cao trình độ chụp ảnh!

    handheld.vn lược dịch & biên tập

     

Chia sẻ trang này