Xà Bông cô Ba của hãng Trương Văn Bền.

Các thớt khác của Lam Sơn

Lam Sơn

Super Moderators
(LS) Hôm nay bên Box Chợ trời có bạn rao bán một số bánh "xà phòng cổ" đồng thời có bạn lại nói về "xà bông cô Ba" nổi tiếng một thời của miền Nam trước đây. Vậy nên tôi tìm bài để các bạn đọc trước là giải trí sau cũng biết qua một chút về hàng "Việt Nam chất lượng cao" ngày trước nổi tiếng như thế nào?

- Một số từ ngữ trong bài viết được dùng từ các thập niên trước xin được giữ nguyên: Huê khôi (hoa khôi), keo su (cao su), nhơn tạo (nhân tạo) v..v...



"Xà bông Cô Ba" còn được gọi là "Cô Ba xà bông"

Đứng hàng đầu trong danh sách những người đẹp vang bóng trên đất Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19 và những thập niên đầu thế kỷ 20 phải kể đến hai người cùng danh gọi: "cô Ba".

Thứ nhất là "cô Ba xà bông" con thầy thông Chánh được nhiều người ngưỡng mộ. Thứ hai là cô Ba Trần Ngọc Trà được xem là bà hoàng của các buổi dạ vũ và từng làm "điên đảo" những tay chơi bạt mạng như công tử Bạc Liêu. Trời cho họ sức quyến rũ nhờ vào sắc đẹp của mình vào độ tuổi thanh xuân nhưng cũng mang đến cho họ những giờ phút cuối đời không may mắn như câu chuyện mà các bạn sẽ lần lượt nghe kể dưới đây.

Sở dĩ gọi "cô Ba xà bông" vì hình của người đẹp này được in nổi trên các sản phẩm nổi tiếng của Hãng xà bông Việt Nam do ông Trương Văn Bền lập ra. Các hình ấy xuất hiện cùng lúc với các mẫu xà bông hình vuông nhiều cỡ, nặng 250 gr, 500 gr hoặc chỉ 125 gr, về sau thêm loại lớn và dài nặng gần 1 kg đúc thành cây mua về cắt từng miếng nhỏ xài dần. Mỗi loại như thế đều có sự "hiện diện" của cô Ba, lưu hành đến các nơi đô hội dần dần đến tận các chợ miền xa ngoài Sài Gòn và lục tỉnh. Như thế cô Ba đã nghiễm nhiên trở thành "người mẫu" đầu tiên gắn liền với một thương hiệu Việt Nam mới ra đời đầu thế kỷ 20. Sự ra đời này cùng với hình ảnh cô Ba, theo một số nhà quan sát, đã nhấn mạnh sự có mặt của sản phẩm Việt và chấm dứt sự thao túng gần như độc quyền của Hãng xà bông Marseille của Pháp đối với người tiêu dùng Việt Nam lúc bấy giờ.

Cô Ba là ai mà được ông Trương Văn Bền chọn làm biểu tượng bên hương thơm xà bông Việt? Điều này tác giả Sài Gòn năm xưa đề cập đến một cách rõ nét, rằng: "Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia, hồi Tây mới đến có cô Ba, con gái thầy thông Chánh là đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà nước in hình vào con tem Nhà Thơ Dây Thép (Bưu điện)".

Cạnh cô Ba, tác giả nhắc đến một số hoa khôi khác như Tư Nhị, Sáu Hương, Hai Thời... vốn là những người đẹp đã làm nghiêng ngả nhà cửa ruộng vườn của nhiều tay hiếu sắc. Theo đó, các cô mỗi chiều ngồi trên xe Delage để mui trần, có tài xế riêng, hoặc ngồi trên xe Hoa Kỳ mới cáu cạnh để lượn đi lượn lại quanh các đường phố chính của Sài Gòn từ chợ Bến Thành qua đường Bonard (đường Lê Lợi ngày nay) vòng qua trường Chasseloup - Laubat (trường Lê Quý Đôn ngày nay), xuống khu Chợ Lớn, khoe sắc trên đường nhựa "để lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối Xuân Trường... Tối lại dưới bóng đèn, các cô như bướm tề tựu đủ mặt cạnh sòng bài sòng me, hoặc năm ba người gầy mâm hút có đờn ca giúp vui, báo hại các cậu con chủ điền muốn lên mặt với chị em đành phải trốn về bán lúa vay bạc Chà, cố cầm sự nghiệp ông bà để lại" mà chạy theo cho kịp nếp ăn chơi của các hoa khôi đương thời.

Nhưng nếp sống ấy dường như không phù hợp với cô Ba xà bông. Có người bảo vì cô sinh ra trong một gia đình công chức nên không quen sống buông thả, người khác cho rằng bản tính của cô vốn vậy từ lâu. Gần đây, vào giữa năm ngoái (6.2006), trong bộ sách mới nhất quanh nội dung Hỏi đáp về Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh của nhiều tác giả do NXB Trẻ ấn hành, đã cho biết cô Ba là "người đã dám cầm súng bắn chết tên biện lý Jaboin, bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị xử tử ngày 18.1.1894 tại Trà Vinh". Người đẹp lừng lẫy Sài Gòn một thời, người mẫu đầu tiên của thương hiệu Việt nổi tiếng, đã có một kết cục cuối đời như thế?

Theo Sài gòn tạp kỷ ghi lại rằng:

Có một người đẹp thuộc hàng “đại mỹ nhân” của Nam kỳ vào đầu thế kỷ trước mà 80 năm qua hương sắc vẫn còn lưu lại trên một dòng sản phẩm. Đó là cô Ba Trà Vinh, người mẫu đầu tiên của Việt Nam, sản phẩm là cục xà bông Cô Ba vang bóng một thời


Bảng quảng cáo xà bông Cô Ba. Ảnh: tư liệu

Trong một bức thư gửi cho “cô Ba”, Nguyễn Thị Thu Hồng, người ở Lái Thiêu, Bình Dương, viết rằng từ thủa nhỏ Hồng đã được ngoại tắm bằng xà bông Cô Ba, đến khi ở cữ, ông xã đem về nửa lô những cục xà bông này, chị mừng muốn rớt nước mắt. Cả một vùng ký ức và hoài niệm chợt bừng dậy. Vẫn cái hương thơm ấy, dù đã bao nhiêu năm, nhưng không lẫn vào đâu được. Nhưng cô Ba là ai, có phải là người sáng tạo ra sản phẩm này không, Hồng thắc mắc.

Cô Ba chính là cô Ba Thiệu, con gái của thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, một hoa khôi đã từng đoạt vương miện của một cuộc thi sắc đẹp, đẹp đến nức tiếng thời bấy giờ. Cô là vợ nhà tư sản Trương Văn Bền và được ông chọn làm người mẫu in hình lên sản phẩm xà bông của hãng mình vào năm 1930. Bằng chất lượng và sự quảng bá rầm rộ, xà bông Cô Ba của hãng xà bông Việt Nam đã đánh bạt cả loại xà bông Marseille nhập cảng của Pháp, chiếm lĩnh cả thị trường Đông Dương, thậm chí còn xuất cảng đi Hương Cảng, Singapore…

Người Sài Gòn cũng như không ít người Nam bộ, có ít nhất hai thế hệ đã được tắm gội bằng xà bông Cô Ba. Trước giải phóng, sản phẩm này hầu như không có đối thủ. Sau ngày giải phóng, vì là tư sản dân tộc, hãng xà bông của ông Trương Văn Bền vẫn còn được giữ lại dưới hình thức công tư hợp doanh có tên là nhà máy Xà bông Việt Nam. Cho đến trước năm 1995, bóng dáng của Cô Ba vẫn bao trùm cả miền Nam lẫn miền Bắc do thị trường lúc đó chưa có một “nhan sắc” xà bông ngoại lai nào.

Thế rồi sau đó, một cuộc đổ bộ ào ạt của những tập đoàn sản xuất chất tẩy rửa của nước ngoài đã khiến cho Cô Ba và các “nhan sắc” xà bông Việt Nam khác lùi vào bóng tối. Khi liên doanh với tập đoàn P&G, nhà máy Xà bông Việt Nam bị buộc phải bỏ tất cả những sản phẩm cũ. Tuy nhiên, sản phẩm xà bông Cô Ba được ngoại trừ, vẫn duy trì sản xuất đều đặn. Cái hay của lãnh đạo nhà máy trước cũng như công ty Phương Đông hiện giờ là chủ trương vẫn giữ sản phẩm này như một sản phẩm truyền thống. Cô Ba vẫn tồn tại dù đã qua biết bao thăng trầm, biến đổi của ngành sản xuất kinh doanh chất tẩy rửa.

Ngày nay, người Sài Gòn vẫn có thể tìm thấy cục xà bông Cô Ba ở những kệ trưng hàng nhỏ bé, khiêm tốn trong một góc siêu thị Co.opmart. Vẫn là một cục xà bông nhỏ bé in hình một phụ nữ Việt Nam với cái vẻ đẹp cổ điển, kiêu sa của thời kỳ đầu thế kỷ trước. Trong cơn lốc cơ man những sản phẩm dầu gội, sữa tắm với những cơn mưa các quảng cáo “bom tấn”, việc sản phẩm xà bông Cô Ba vẫn tồn tại với một sản lượng khá đáng kể hầu như là một điều kỳ diệu.

Cũng là điều dễ hiểu thôi nếu như bạn là người Sài Gòn, ở độ tuổi trung niên, một lần tình cờ gặp lại Cô Ba. Sẽ là xúc động bồi hồi như gặp lại một người thân, một người bạn và cơ man những kỷ niệm của thời thơ ấu. 80 năm và sẽ còn lâu hơn nữa, hương sắc Cô Ba sẽ vẫn còn tồn tại như những tác phẩm văn thơ hay nhạc tiền chiến đối với người Sài Gòn…

 

Lam Sơn

Super Moderators
Trương Văn Bền (1883-1956): Nhà kinh doanh tài ba.


Trương Văn Bền (1883 - 1956)

Nhà công nghiệp, quê Chợ Lớn. Xuất thân từ một gia đình thủ công, năm 1918 ông đã lập nhà máy nấu dầu dừa, sản xuất xà phòng, glycerin hàng ngàn tấn mỗi tháng (đây là các nhà máy sản xuất xà phòng và kỹ nghệ dầu lớn nhất Đông Dương thời đó). Ông cũng hợp tác trong việc chích lấy nhựa thông và phục hồi những khu rừng quanh Đà Lạt, sản xuất mỗi năm khoảng 30 tấn dầu thông cùng hàng trăm tấn tùng hương. Ông còn là người Việt đầu tiên lập ra hai nhà máy xay lúa công suất trên 100 tấn gạo mỗi ngày và Tổng Giám đốc Công ty Trồng lúa Tháp Mười mà có một sở điền rộng tới 10.000 ha. Từ năm 1918 đến 1945, ông sáng lập, làm chủ tịch hoặc thành viên chính của nhiều hiệp hội kinh tế, tài chính, lúa gạo, công nghệ hoặc thành viên chính của nhiều hiệp hội kinh tế, thương mại, tài chính, lúa gạo, công nghệ, bến cảng lớn ở Nam Kỳ và Đông Dương. Là một đại gia công nghiệp, ông góp tâm sức rất lớn cho việc phát triển nền thương mại, kỹ nghệ và nông nghiệp miền Nam nửa đầu thể kỷ XX.

Tên tuổi Trương Văn Bền gắn liền với cục xà bông thơm: “Xà bông cô Ba”, hay cục xà bông đá: xà bông Việt nam để giặt đồ, phổ thông khắp cả 3 miền đất nước, lên tận Miên, Lào. Xà bông thơm “Cô Ba” nổi danh trong mấy thập niên liền, đủ sức đánh bạt xà bông ngoại hoá, nhập cảng từ Pháp. Người miền Nam đã từng thán phục ông Trương Văn Bền, cũng như người ở miền Bắc khâm phục ông Bạch Thái Bưởi. Cả hai ông đều thành công trên thương trường mà không qua một trường dạy nghề nào, không cần một bằng cấp kỹ sư nào. Điều đó chứng tỏ “kinh tế nhân” một con người có đầu óc kinh doanh, tháo vát, nhiều sáng kiến còn hơn là người học hành tới nơi tới chốn, bằng cấp bề bề, nhưng không đóng góp những sự hiểu biết, kiến thức của mình vào công việc kiến thiết, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế nước nhà.

Gia sản đồ sộ của ông Trương Văn Bền là do công sức sáng tạo của ông làm ra. Gia sản kếch xù đó không phải thừa hưởng của phụ ấm. Cũng không phải ông Bền làm giàu bằng cách nhờ ruộng đất. Ông có một lối đi riêng làm gương cho những người đi sau như Trần Thành, vua lúa gạo Chợ Lớn, ông Trương Văn Khôi, vua bột giặt Viso, ông Nguyễn Tấn Đời, vua ngân hàng...

Nếu sắp hạng sự giàu có của ông Trương Văn Bền với những người đồng thời, thì gia sản của ông tương đương với ông Phủ Kiểng ở Bến Tre, ông Kho Gressier Remy ở Sóc Trăng, hay gia đình Lâm Quang ở Trà Vinh. Người giàu nhứt Lục danh thời ấy là Hội đồng Trần Trinh Trạch, tục danh Hội đồng Tó (giàu gấp 4 lần ông Bền và ông Kiểng)

Là người Việt gốc Hoa, sinh năm 1883 tại Chợ Lớn, ông Trương Văn Bền thuộc một gia đình khá giả. Ông có đi Pháp nhiều lần, nhưng chưa học qua một trường chuyên nghiệp nào. Theo bảng lượng giá để đánh thuế của Phủ toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội, thì năm 1941, ông Trương Văn Bền phải đóng cho chính phủ một số tiền lên tới 107.000 đồng (trong khi đó, giá vàng khoảng 60 đồng/lượng).

Là người nhạy cảm trong việc thương mại, nhìn xa thấy rộng, ông Bền biết rõ tiềm năng kinh tế Việt Nam còn bị lãng quên: cây dừa. Từ năm 1918, ông Bền đã lập xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ xà bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1500 tấn Cùng lúc đó, tại cù lao An Hoá, quận Bình Đại cũng mọc lên xưởng ép dầu dừa của ông Nguyễn Thành Liêm. Ông Liêm là thân phụ ông Nguyễn Thành Lập, thành viên góp vốn cho ngân hàng Việt nam, và từng làm Bộ trưởng Tài Chánh nhiều chính phủ. “Xà bông VN 72% dầu” nổi tiếng, phổ thông khắp mỗi làng mạc, thôn xóm.

Năm 1932, hãng xà bông Trương Văn Bền được thành lập tại địa chỉ “Quai de Cambodge” (trước chợ Kim Biên bây giờ), ban đầu sản xuất 600 tấn xà bông giặt mỗi tháng. Từ khi “Xà bông cô Ba” tức xà bông thơm đầu tiên của Việt nam, để tắm gội ra đời, có sức đánh bạt xà bông thơm của Pháp, nhập cảng từ Marseille nhờ phẩm chất tốt, giá thành thấp. Trong thương trường, ông Bền có chủ trương riêng để tạo uy tín là phải giữ phẩm chất tốt, bền bỉ. Ông nhìn xa thấy rộng, không theo lối chụp giựt, ăn xổi ở thì. Mặc đầu có địa vị cao trong xã hội, nhưng ông Bền không tự mãn. Ông luôn luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua Pháp. Khi máy giặt được phát minh và nhập cảng vào Việt nam, ông Bền cũng liền sản xuất loại bột giặt để thích ứng ngay. Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi, và bột giặt “Việt nam “ của hãng xà bông Trương Văn Bền (lúc đó đổi thành hãng xà bông Việt nam), có đủ sức cạnh tranh với bột giặt của Mỹ nhập cảng.

Xà bông “Cô Ba” có in hình nổi trên cục xà bông thơm, trong một hình oval. Ngoài hộp xà bông bằng giấy carton cũng có in hình người đàn bà đẹp đó. Nhiều giai thoại kể lại rằng người đàn bà in hình trong cục xà bông thơm và nhãn hiệu đó chính là người vợ thứ của ông Bền. Một nguồn tin đồn khác kể lại “Cô Ba “ chính là con gái Thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, người đàn bà đẹp nhứt Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ này. Dầu sao đó cũng là giai thoại và tin đồn không được kiểm chứng. Cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh “Cô Ba”, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình bán chạy. Với sự ra đời của hãng xà bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt nam hãnh diện được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai. Các xưởng ép dầu, xưởng làm xà bông, thâu nhận và tạo công ăn việc làm cho trên 200 công nhân. Khi công việc làm ăn phát đạt thêm, ông Bền còn xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé (trước năm 1975 đổi thành Minh Mạng-Hùng Vương).

Ngoài việc sản xuất xà bông, ông Bền còn lập nhà máy sản xuất một thứ phó sản, một thứ chất nhờn gọi là glycérine, công xuất mỗi tháng 10 tấn. Ngoài công việc kỹ nghệ, ông Bền còn chứng tỏ khả năng trong lâm nghiệp và canh nông. Ông hợp tác với Viện nghiên cứu Nông Nghiệp Đông Dương, để ươm cây con gây rừng thông, hàng tháng tới 30 tấn, tại Đồng Nai Thượng, tức tỉnh Lâm Đồng ngày nay.

Trong lãnh vực nông nghiệp, Trương Văn Bền còn làm chủ tịch Tổng giám đốc Công ty Canh nông Tháp Mười, có một đồn điền rộng 10.000 mẫu, để khai thác từ năm 1925 tới 1932.

Ngoài các công việc chuyên môn như đã kể ở trên, Trương Văn Bền còn là:
- Phó chủ tịch Phòng thương mại Nam Kỳ 1932-41.
- Hội viên Hội đồng Canh nông từ 1922.
- Hội viên Hội đồng Kinh tế lý tài Đông Dương từ 1929.
- Hội viên Hội đồng Quản trị Thương cảng Sài gòn từ 1924.
- Hội viên Hội đồng Quản trị lúa gạo Đông Dương.
- Chủ tịch kiêm thủ quỹ nghiệp đoàn Canh nông Chợ Lớn từ 1932
- Hội viên Hội đồng sản xuất kỹ nghệ từ năm 1941.

Hồi đó, tạị Nam Kỳ có 3 cơ quan tư vấn tối cao, phụ tá cho Thống đốc là: Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, Hội đồng Canh nông, và Phòng thương mại, thì ông Bền đều là hội viên của cả ba. Ông Bền có nhiều con trai lẫn gái. Một người con, chúng tôi được nghe nhắc tới là ông Trương Khắc Trí, từng là chủ tịch ban quản trị Việt nam Công Thương Ngân Hàng (lập năm 1953) tại Sài gòn. Người con trai út, ông Trương Khắc Cần, thay cha quản lý “Hãng xà bông Việt nam”.

Trong ký sự “Một tháng ở Nam Kỳ”, nhà văn Phạm Quỳnh có nhắc đến ông Trương Văn Bền: Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp. (Lúc đó khoảng năm 1918, ông Bền chưa lập hãng xà bông).

(Nguồn Saga.vn)
 

nghiemhung

GẮN KẾT
GÂY DỰNG
Hình như Vua Ngân Hàng là cụ Nguyễn Tấn Đời chứ không phải Đòi hay sao í bác ạ
 

0918553311

Bán VLXD_TTNT
GẮN KẾT
GÂY DỰNG
Botay bác Lam son lục ở đâu đc những thứ này vậy nè
 

nghiemhung

GẮN KẾT
GÂY DỰNG
Chính xác. Cám ơn anh nghiemhung :D

Khi xưa em có đọc một chuyên đề nói về "Những ông vua không ngai" trước 1975. Bác Sơn lục tìm mang về giới thiệu với anh em được không? Đại loại là các cụ như cụ Bền, cụ Đời, hay cụ Bưởi gì đó. Ngoài Bắc xưa thì có cụ Vua Lốp. Toàn những nhân tài kiệt xuất cả.
 

Lam Sơn

Super Moderators
Vua lốp

"Vua lốp", hay còn gọi là "Vua dép lốp", tên thật là Nguyễn Văn Chẩn, là một người đương đại có tiếng vì tài năng và sự tháo vát, gây dựng nên một tài sản lớn từ hai bàn tay trắng, nhưng cuộc đời gặp phải nhiều oan trái, tù tội, một "bi kịch lớn". Ông chỉ mất tổng cộng chừng chục năm trời để gây dựng nên sự nghiệp, nhưng lại mất tới gần hai mươi năm để đi kiện đòi lại tài sản của mình bị tịch thu và đòi lại công lý cho mình.


Vua lốp và vợ

Ông sinh ra ở vùng quê huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, làm nghề nông, làm việc vất vả nhưng không thoát được cảnh nghèo túng. Năm 1954, quyết tâm ra Hà Nội tìm đường làm giàu, ông bán tài sản giá trị nhất là ruộng rau, mang theo nửa số tiền bán ruộng, để lại vợ con ở nhà với một nửa số tiền còn lại.

Khởi sự, ông xin làm công ở một xưởng làm dép lốp, bóc vỏ xe ô tô cắt làm dép. Cần cù chịu khó, ông tích lũy được số vốn nhỏ để đón vợ con lên Hà Nội và mở cửa hiệu của riêng mình.

Công việc của ông trở nên phát đạt, nhưng thời của dép lốp cũng dần qua. Ông chuyển sang lĩnh vực làm bút. Bút do ông làm mang kiểu dáng Trường Sơn, bán với giá rẻ, được bày ở khắp các cửa hàng bách hoá chiếm được cảm tình của người mua nên ông trở nên khá giả.

Đang làm ăn phát đạt thì phòng tài chính quận Hoàn Kiếm đến khám nhà, kiểm tra đăng ký sản xuất. Dù ông đã trình giấy tờ đủ, nhưng vẫn bị tịch thu toàn bộ công cụ, nguyên liệu, sản phẩm, thuê xe đưa về quận Hoàn Kiếm. Ông khiếu nại, "vì sao tôi ở quận Ba Đình mà Hoàn Kiếm lại bắt?" và gửi đơn kiện đi khắp nơi, ít lâu sau ông được trả lại một số những thứ đã tịch thu.

Một thời gian ngắn sau đó, công an quận Ba Đình kéo đến khám nhà, tịch thu toàn bộ mô-tơ, khuôn làm bút, vài tạ dép đứt quai, cao su, hàng ngàn chi tiết bút... Ông bị khởi tố và bị xử 30 tháng tù vì tội "tàng trữ, đầu cơ, sản xuất trái phép". Theo con trai ông kể lại:

"Lúc đó bố tôi chống án nhưng không được xử phúc thẩm. Cuối cùng phải ngồi tù đủ 30 tháng không thiếu một ngày".

Ông phải ngồi tù 18 tháng tại Hoả Lò và 12 tháng tại trại Hồng Ca (Yên Bái). Ra tù, ông làm đơn kêu oan. Toà án tối cao xử phúc phẩm ngày 25-5-1972, án số 22 xử ông phạm tội đầu cơ, phạt cảnh cáo và nộp phạt một trăm đồng. Theo lời con ông:

"Như vậy bố tôi bị tù oan, hai năm rưỡi chống án, tại sao toà không xét? Ông chánh án trả lời chúng tôi giữa phiên toà là người ta quên. Bố tôi chỉ đáng cảnh cáo mà ngồi tù 30 tháng!".

Ra tù, ông tìm cách kiếm sống bằng đủ nghề, cuối cùng đành quay lại với nghề dép lốp. Nhận thấy nguồn cung ứng lốp khan hiếm, ông nghĩ ra cách mua lốp xe cũ về dán lại, và sáng chế ra một loại nhựa vá săm tốt, bán rất chạy. Tuy nhiên sự thuận lợi trong kinh doanh của ông chỉ kéo dài được hai năm. Đầu năm 1974, công an Ba Đình lại đến khám nhà bắt người, ông bị giam ở quận, với lý do "ăn lên làm ra vùn vụt, chắc phải có gian lận". Do ông đã có tiền án tiền sự nên việc bị bắt, bị giam chỉ là chuyện thường. Ông bị giam đến 30-3-1974 thì được thả.

Để kiếm sống, ông định làm nghề vá lốp sửa chữa xe đạp, và qua đó sáng chế ra khuôn đúc lốp xe. Sau năm năm mày mò nghiên cứu, ông cho ra đời hiệu lốp Quyết Thắng. Những năm đó, lốp của ông nổi tiếng toàn quốc, mỗi năm sản xuất trên 2.000 đôi. Năm 1983 lốp Quyết Thắng được trao Huy chương đồng tại Hội chợ triển lãm Giảng Võ, ông được xưng tụng là "vua lốp". Ông mở rộng cơ sở sản xuất, mua lại toàn bộ bãi rác của nhà máy cao su Sao Vàng, bao gồm lốp và cao su phế liệu. Bãi nguyên liệu của gia đình ông (chợ Thành Công bây giờ) luôn có tới hàng trăm tấn.

Ngày 27-8-1983, lực lượng liên ngành quận Ba Đình bao gồm quân đội, công an, viện kiểm sát, ủy ban đã phong tỏa nhà và xưởng sản xuất để công bố quyết định: tịch thu nhà cửa, toàn bộ công cụ và nguyên vật liệu sản xuất của xưởng sản xuất lốp và bắt ông Nguyễn Văn Chẩn.

Khi công an đến nhà, ông Chẩn đang trốn trên Hàng Đào, sau đó phiêu bạt đi Thái Bình, Hải Phòng, Hà Bắc gần một năm. Ông chỉ về nhà khi bà và các con đã phát đơn khởi kiện, do vậy tránh được việc phải vào tù lần nữa. Nhà cửa bị tịch thu, vợ con ông phải sống lay lắt ngoài đường.

Trong một lần trả lời báo chí, cố nhà báo Trường Phước, Đài Truyền hình Việt Nam cho biết, ông coi những doanh nhân như "Vua lốp" là những anh hùng thời đổi mới: "Nếu nói trong "chiến dịch" đánh đổ những tư nhân làm giàu như ông Chẩn - Hà Nội có sai lầm thì trong đó có cả những sai lầm của những nhà báo lên tiếng cổ vũ cho chiến dịch này như tôi. Bằng công cụ truyền hình, bằng các buổi bình luận, nhưng trước hết bằng lòng nhiệt tình trong sáng nhưng nhầm lẫn của mình, tôi đã làm "đau" ông Chẩn".

Thời gian đó, ông phải vừa lẩn trốn, vừa viết, gửi rất nhiều đơn đến cơ quan công quyền. Cuối cùng thì Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cũng ra quyết định đình chỉ vụ án, yêu cầu trả lại toàn bộ tài sản, nhà cửa cho "Vua lốp". Tuy nhiên Công an lại ra quyết định miễn tố. Không hài lòng, ông tiếp tục kiện, vì "Miễn tố là có tội nhưng miễn cho, nhưng tôi có tội gì?". Tới ngày 21-12-1985, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ra quyết định hủy bỏ quyết định miễn tố của Sở Công an Hà Nội, quyết định đình chỉ điều tra, thừa nhận ông vô tội và yêu cầu Hà Nội trả lại tài sản cho gia đình ông. Đây có thể nói là một "thắng lợi tinh thần", giúp ông lấy lại danh dư vì được minh oan và trở thành người vô tội.

Ngày 1-9-1990, Hà Nội ra công văn số 4071 do Chủ tịch Lê Ất Hợi ký về việc trả lại tài sản cho ông. Căn nhà 917m2 của ông khi được trả lại bảy năm bị lấn chiếm chỉ còn trên 200m2. Nhà được trả lại, nhưng tài sản thì không, ông lại tiếp tục đi gõ cửa các cơ quan chức năng, không mệt mỏi, và phải 10 năm sau đó, ông mới nhận lại được một phần tài sản của mình.

(Nguồn: Wikipedia - VietNam Net)​
 

Lam Sơn

Super Moderators
Xem thêm: 'Vua Lốp' Nguyễn Văn Chẩn: người... keo kiệt?

Có thể nói cuộc đời của "vua lốp" Nguyễn Văn Chẩn là một bi kịch lớn. Ông chỉ mất tổng cộng chừng chục năm trời để gây dựng nên sự nghiệp (từ hai bàn tay trắng trở thành người có tài sản được coi là kếch xù vào thời điểm đó), nhưng lại mất tới gần gấp hai lần thời gian ấy để đi đòi lại tài sản của mình bị tịch thu.

Suốt hàng chục năm trời, cho tới khi đòi lại được số tài sản của mình, đã có không biết bao nhiêu lần ông tìm gặp chúng tôi. Rồi cũng chừng ấy bài báo "kêu" giúp ông ra đời. Sau này, trong lúc "trà dư tửu hậu", tôi nói thẳng với ông: "Nếu ông chịu trích một phần trong số tiền mà ông đòi ra để "đút" cho người ta thì chắc đã không mất tới gần ba chục năm mới đòi lại được chưa đầy một tỷ đồng?". Ông quắc mắt: "Tôi thà không có xu nào chứ nhất định không bao giờ cho "thằng" nào làm giàu bằng mồ hôi nước mắt của tôi".

Trong giới "lắm tiền nhiều của", ông được coi là người "keo kiệt" nổi tiếng. Nhà văn quân đội, Đại tá Nguyễn Trần Thiết, có lần thổ lộ: "Thằng cha ấy "chặt chẽ" lắm, mình viết cho "hắn" cả một cuốn tiểu thuyết, ("Vòng trầm luân oan nghiệt"- NV) thế mà tết đến "hắn" biếu mình... một chiếc lốp xe đạp". Hôm thắng kiện ông đưa đến toà soạn chúng tôi nửa ký chè Thái Nguyên, hai cân vải thiều và một gói thuốc Vinataba gọi là "cảm ơn các nhà báo đã giúp đòi lại công lý". Không ai giận ông, cũng chả ai chê trách gì ông, bởi chúng tôi biết rất rõ rằng để có được đồng tiền ông thực sự đã phải đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa.

Đi tìm chỗ đứng

"Nhà tôi nghèo lắm, tài sản duy nhất là cái ao rau muống. Hai vợ chồng tôi làm quần quật suốt ngày mà vẫn không đủ ăn" - "Vua lốp" nhớ lại. Thế rồi một bận có người hàng xóm ra thăm con ở Hà Nội về bảo: "Dân Hà Nội giàu lắm. Người ta làm "cái chi" (cái gì) cũng ra tiền". Thế là từ đó mộng "ra Hà Nội làm giàu" không bao giờ rời khỏi đầu gã cố nông Nguyễn Văn Chẩn. "Năm lần mười lượt tôi thuyết phục bà vợ "dát như thỏ đế" nhà tôi là bán cái ao rau muống để tôi lấy tiền ra Hà Nội "gây dựng sự nghiệp", nhưng bà ấy nhất quyết không nghe. Nhưng rồi tôi lại "dỗ ngon dỗ ngọt" và cuối cùng bà ấy cũng xiêu lòng. Bán cái ao, để lại cho vợ con một nửa tiền, nửa còn lại tôi giữ để đi Hà Nội"- ông Chẩn kể.

Thế là năm 1955, ở tuổi 28, gã cố nông bỏ nhà, giã từ vợ con, leo lên xe hoả về đất kinh kỳ với quyết tâm rũ bỏ cái đói nghèo truyền kiếp của lớp tá điền vùng chiêm trũng Nga Sơn, Thanh Hoá. Nhưng làm thế nào để trở nên giàu có? "Đó là câu hỏi mà lúc bấy giờ tôi chưa tìm được lời đáp"- ông Chẩn nói. Xuống ga Hàng Cỏ vào lúc trời sẩm tối, người đông như chợ, phố phường đèn điện sáng trưng, hàng quán nhiều vô kể. "Đi đâu bây giờ?"- gã tá điền hỏi và lại không tìm được câu trả lời. Thôi thì cứ đi, lúc nào mỏi chân thì đứng dòm. Thế rồi tình cờ, một sự tình cờ như là tiền định, Chẩn lạc đường tới phố Hàng Da, nơi sản xuất và bày bán các loại đồ da, đặc biệt là các loại dép lốp đang rất thịnh hành thời bấy giờ. "Giá mà lúc ấy tôi lạc tới phố Hàng Bạc, Hàng Thiếc thì chắc cuộc đời tôi đã khác"- "vua lốp" Nguyễn Văn Chẩn cười. Hàng ngày Chẩn tha thẩn ở các quầy làm dép, mắt dán chặt vào những cánh tay thao tác như múa, bóc lốp như gọt vỏ khoai tây của cánh thợ để học nghề với hy vọng sẽ kiếm được việc làm. Sau dăm bảy ngày "học việc" Chẩn bắt đầu đi xin việc. Đến xưởng thứ nhất, ông chủ yêu cầu thử tay nghề. Trượt. Rồi xưởng thứ hai, thứ ba, thứ tư... đều trượt.

Số tiền mà Chẩn bán cái ao rau muống ngày một vơi dần. Sau nhiều ngày lang thang tìm việc làm Chẩn mới thấm thía một điều rằng "có học mà không có hành thì chẳng bao giờ làm nên trò trống gì cả". Chẩn quyết định xin vào làm phụ việc không công cho một xưởng dép ở cuối phố Hàng Da. Hàng ngày Chẩn cần mẫn như một con ong rừng lúc thì giữ chiếc lốp ô tô cho tay thợ này bóc, lúc thì bê trà cho tay thợ kia, lúc không có việc phụ tá thì dọn những mảnh vụn quanh xưởng. Những lúc các tay thợ nghỉ trưa Chẩn cầm dao tập bóc những miếng lốp mà cánh thợ thải ra. Thấy Chẩn chăm chỉ mà lại ham học ông chủ xưởng mới thương tình dạy nghề cho và mỗi tháng còn cho một khoản tiền nho nhỏ đủ để thuê nhà, ăn uống và còn dư ra chút ít để làm vốn. Vốn tính tháo vát, chỉ vài tháng sau Chẩn đã đứng ngang hàng với những tay thợ lão luyện nhất của xưởng dép. Có việc làm, có tiền, Chẩn mua được một ngôi nhà nho nhỏ và về quê đưa vợ con lên Hà Nội lập nghiệp. Đó là năm 1958.

Trở thành ông chủ

Sau hơn một năm trời làm lụng cật lực và dè xẻn từng xu một, hai vợ chồng Chẩn đã có một số vốn đáng kể. Ông lập xưởng sản xuất dép lốp. Dép của Chẩn được đưa đi khắp hang cùng ngõ hẻm của Hà Nội, rồi đi Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, rồi vào Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An... Chẩn trở thành ông chủ dép lốp có tiếng của Hà Nội. Khi Chẩn trở thành ông chủ của nghề dép lốp thì cũng là lúc việc mua lốp phế thải trở nên khó khăn hơn. Một hôm nhìn mấy bà đồng nát, Chẩn nghĩ ngay ra một kế: "Này, các bà đi các xó xỉnh, góc phố thấy có lốp ô tô hỏng thì mách tôi sẽ có thưởng". Thế là không chỉ có mấy bà đồng nát mà trẻ con, người lớn thi nhau chỉ trỏ cho Chẩn để lĩnh thưởng.

Trong khi nhiều xưởng dép lốp không có nguyên liệu để làm thì lốp xe ô tô hỏng thi nhau "kéo về" chất đống ở nhà Chẩn. Và rồi tai vạ đến thật bất ngờ. Lốp nhiều phải xếp cao, chật cứng căn nhà ọp ẹp. Một bận bức tường đất đổ, lốp trào ra lăn lổm ngổm ngoài đường phố. Chỉ nửa giờ sau đó, không hiểu do ai mách, cán bộ thuế Sở Tài chính Hà Nội đã kéo tới chật cứng nhà Chẩn. Người thì đếm, người ghi chép, tính toán. Hai ngày sau đó Chẩn được liệt vào danh sách "những tư sản mới nổi lên". Toàn bộ tài sản bị tịch biên. Chẩn phải đi cải tạo. Nhưng rồi vài ngày sau Chẩn được tha về. Chẩn choáng váng. Ông không hiểu "vì sao một gã tá điền suốt ngày quần quật múa dao bóc lốp, ăn không dám no bụng, mặc chỉ dám mua loại vải rẻ tiền nhất mà lại được liệt vào tầng lớp tư sản?". (còn tiếp)
 

Lam Sơn

Super Moderators
"Được tha về tôi "căm thù" cái nghề dép lốp, bụng bảo dạ từ nay sẽ không bao giờ làm cái nghề mà người ta gọi là "tư sản- dép lốp" ấy nữa, nhưng rồi không làm thì lấy gì để nuôi vợ con"- "Vua lốp" nhớ lại. Ông lại lao vào làm. Rồi thì cái nghề dép lốp của Chẩn cũng phải xếp xó khi các mặt hàng nhựa được tung ra thị trường. Nhưng một sự tình cờ đã đưa Chẩn tìm tới một nghề khác. "Bữa đó thằng con tôi đi học về hét toáng lên vì chiếc bút máy của nó bị vỡ, mực ra đầy tay. Thằng bé đòi bút mới. Tôi đi lùng sục khắp các cửa hàng bách hoá tổng hợp của nhà nước, đâu đâu cũng thấy đề là phân phối. Cuối cùng tôi đành phải mua chui một chiếc bút ở vỉa hè với giá 6 đồng, đắt gấp ba lần ở cửa hàng Nhà nước. Tôi cầm chiếc bút máy Trường Sơn mà tức ứa máu mắt. Tôi xót tiền. Tôi tháo tung chiếc bút: chỉ có bảy bộ phận đơn giản mà chất liệu lại chẳng phải Tây hay Tàu gì... Sao không làm được nhỉ?"- "vua lốp" Nguyễn Văn Chẩn kể. Chẩn cho con cháu đi khắp các hang cùng ngõ hẻm thu gom các loại nhựa phế thải đem về. Ông ra phố Lò Rèn thuê thợ cơ khí làm cho một cái khuôn. Sau mấy tháng mày mò, Chẩn cầm nắm bút ra Phòng thủ công nghiệp quận đăng ký sản xản xuất bút. Ban đầu người ta tròn mắt ngạc nhiên, sau đó người ta cầm lấy bút, bơm mực và thi nhau lia trên giấy.

Sau khi mỗi người găm một chiếc vào túi áo, Chẩn được phép sản xuất. Từ đấy Hà Nội có một loại bút máy không nhãn mác khá tốt mà giá lại rẻ được bày bán đầy các cửa hàng. Chẩn lại phất lên trông thấy. Chẩn đang phấn chấn thì "ông tài chính" quận Hoàn Kiếm mò tới: "Tại sao sống ở quận Ba Đình mà lại kinh doanh ở quận Hoàn Kiếm?". Lại khám nhà, lại đếm, lại ghi chép... Toàn bộ công cụ, đồ nghề, nguyên liệu, sản phẩm bị tịch thu. Lần này thì không thể ngồi yên được nữa rồi. Chẩn làm đơn kiện: "Tại sao tôi sản xuất tại quận Ba Đình mà quận Hoàn Kiếm lại tiến hành khám nhà và tịch thu đồ đạc của tôi?". Đơn từ gửi đi khắp nơi. Sau đó ít lâu Hoàn Kiếm lại xe các thứ đã tịch thu trả lại cho Chẩn. Chỉ có điều họ thu mười thì nay chỉ trả lại có hai, ba.

Ba lần vào tù

Bỏ nghề làm bút. Buồn bực, chán chường, Chẩn lao vào làm nghề mới: nghề đắp lốp xe đạp, xe thồ. Cho đến tận bây giờ mỗi khi nhớ tới "vua lốp", nhiều người vẫn không hiểu vì sao cái gã tá điền học học hành không đến nơi đến chốn ấy tại có biệt tài là "sờ" vào cái gì cũng ra tiền. Ông đắp lốp và ông lại giàu lên. Nhưng rồi vào một ngày đầu tháng 4/1960, công an quận Ba Đình đã kéo đến khám nhà, tịch thu toàn bộ mô tơ, khuôn làm bát, vài tạ dép đứt quai, cao su, hàng ngàn chi tiết bút...

Nguyễn Văn Chẩn bị bắt vì tội tàng trữ và đầu cơ hàng hoá, sản xuất trái phép. Toà án Hà Nội xử Chẩn 30 tháng tù giam. Chẩn chống án, nhưng không được xử phúc thẩm. Sau 18 tháng "ngồi" trại Hoả Lò, 12 tháng "bóc lịch" tại trại Yên Bái, Chẩn ra tù. Khuynh gia bại sản, vợ con nheo nhóc, Chẩn trở lại với điểm xuất phát ban đầu: hai bàn tay trằng. Để nuôi vợ con Chẩn phải đi đào ngó sen bán, sống lay lắt qua ngày. Hai năm rưỡi ở tù đã làm cho "gã tá điền" sáng mắt. Chẩn sợ tất cả những gì liên quan tới hai từ "tư nhân". Vì thế Chẩn xin bằng được vào công ty vệ sinh thành phố, rồi nối săm xe đạp thuê cho công ty xe đạp... Nhưng đồng công quá ít ỏi của công việc nhà nước đã làm ông chán ngán. Chẩn bỏ việc và quay ra đường làm nghề sửa chữa xe đạp. Vá săm lốp thì phải có nhựa. "Mà nhựa quốc doanh thì chưa vá đã bong, chịu hết nổi, tôi mới mày mò pha chế loại nhựa tốt hơn" - "vua lốp" kể lại. Và ông có nghề mới: sản xuất nhựa vá săm.

Nhựa của Chẩn vá đế dép rất chắc, vá săm lốp không bong. Người ta đua nhau tới mua. Sáng sáng các chủ đại lý xếp hàng rồng rắn trước xưởng nhựa của Chẩn. Khách các tỉnh xa về mua hàng can lớn. Chẩn lại giàu lên. Tuy nhiên sự thịnh vượng ấy chỉ kéo dài được chừng hai năm. Khám nhà, tịch thu và Chẩn lại bị bắt. Đó là đầu năm 1974. Lần bị bắt thứ hai này đơn giản lắm: "Thằng cha này giầu nhanh thế chắc chắn là phải có vấn đề". Vâng, thời bấy giờ giàu có nhanh chóng thường là đồng nghĩa với tội phạm. Mà bắt Chẩn thì thật dễ: kẻ có tiền án, tiền sự mà!

"Vua lốp" nhớ lại: "Đang "ngồi" tù, có một vị to béo, mặt mũi phương phi đến vỗ vai: Tớ ở bộ xuống muốn trao đổi với cậu. Tôi được đưa ra khỏi nhà tù và được đưa lên lầu hai. Ông ta bảo: Đọc cho tôi công thức pha nhựa của cậu xem có đúng là nhựa cậu làm ra không. Tôi đọc cho ông ta. Tất nhiên không phải là loại nhưa tốt nhất. Dại quái gì mà tiết lộ cái nghề hái ra tiền của mình cho thằng nào. Ông ta ghi chép cẩn thận. Có lẽ do sự không thành khẩn đó mà số phận tôi không thay đổi". Ba tháng ngồi tù, ngày 30/3/1974, Chẩn được thả. 50 tuổi, hai lần vào tù, Nguyễn Văn Chẩn ngơ ngác không hiểu ở đời thế nào được coi là đúng, thế nào là sai. Chẩn thất vọng tới mức định thu xếp khăn gói trở về cái vùng quê chiêm trũng đã không còn một tấc đất cắm dùi. Nhưng rồi Chẩn sợ. "Tôi sợ cái đói, cái nghèo. Tôi thích tiền, thật nhiều tiền. Mà ở quê thì khó kiếm tiền lắm".

Chẩn quay lại với nghề làm lốp. Sau 5 năm, vừa bán chè chén vừa mày mò nghiên cứu, đầu năm 1980 chiếc lốp xe đạp mang tên "Quyết Thắng" đầu tiên của Chẩn ra đời. Vào những năm đầu thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, lốp của Chẩn nổi tiếng toàn quốc, được trao Huy chương đồng tại Hội chợ triển lãm Giảng Võ. Dân Hà Nội gọi Nguyễn Văn Chẩn là "Vua lốp" từ đó. "Vua lốp" lại "hái" ra tiền. Có tiền ông mua nhà, mở xưởng sản xuất lớn.

Giữa năm 1983 tai vạ lại ập xuống. Lần này mới thực sự là tai vạ! Nhà xưởng của ông bị niêm phong. "Vua lốp" bị kết tội "dùng cao su chính phẩm do Nhà nước quản lý để sản xuất lốp, chứ không phải phế liệu". Ba ngày trời, dưới sự chứng kiến của hàng trăm quan chức đủ mọi thành phần và hàng ngàn người dân hiếu kỳ, Chẩn đã thao tác quy trình làm lốp bằng phế liệu của mình. "Nhưng đó là chiếc lốp này, còn hàng trăm chiếc lốp khác thì sao?". Ngày 8/7/1983, Chẩn bị kê biên tài sản. Ngày 25/7 khởi tố vụ án. Tiếp đến ngày 28/7 xử lý hành chính đặc biệt: tịch thu toàn bộ nhà cửa, tài sản, công cụ sản xuất, nguyên liệu. Chẩn bị bắt giam. Vài tháng sau Chẩn được thả. Và cũng từ đây cuộc hành trình đi tìm công lý của "vua lốp" bắt đầu. May mắn làm sao, cuối cùng thì Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã ra quyết định đình chỉ vụ án, yêu cầu trả lại toàn bộ tài sản, nhà cửa cho "vua lốp". Ngày 1/9/1990 Hà Nội trả lại nhà cho ông, còn tài sản thì không. "Vua lốp" lại tiếp tục đi gõ cửa các cơ quan chức năng và phải 10 năm sau đó, ông mới nhận lại được một phần tài sản của mình.

"Vua lốp" bây giờ

Mãi sau này, "vua lốp" vẫn duy trì ba xưởng làm lốp: hai ở Hà Nội, một ở Thanh Hoá quê ông. "Duy trì và sản xuất vài trăm chiếc lốp xe đạp, dăm chục chiếc lốp xe máy mỗi ngày, cái chính là để cho con cháu nhớ rằng để làm ra được đồng tiền cha chúng đã phải đổ không biết bao nhiêu là mồ hôi, nước mắt thậm chí cả máu nữa"- "vua lốp" nói.

Nghề làm lốp sau đó được ông truyền lại cho con cháu. Chục năm trở lại đây "vua lốp" làm nghề bốc thuốc. Bà con khu phố Ngọc Hà (Ba Đình, Hà Nội) kể với tôi rằng, "vua lốp" rất có tài trong nghề bốc thuốc. Ông chữa được khối bệnh. Này nhá: có bà bị liệt, bệnh viện chữa hai ba năm không khỏi; tới tìm ông, bệnh thuyên giảm trông thấy. Có ông vôi cột sống, rồi đau dạ dày; có bà viêm xoang, đau bụng kinh niên, ông đều chữa khỏi... Hàng ngày 5h sáng, "vua lốp" dậy, tự tay pha ấm trà, ra vườn "đi" mấy đường quyền, trà ngấm tới cũng là lúc ông kết thúc tập thể dục. Uống trà, ăn điểm tâm, rồi xem "Chào buổi sáng" của VTV1. Sau đó đọc sách, nghiên cứu, bệnh nhân đến nhà thì bốc thuốc.

Một bận "vua lốp" tìm đến tận cơ quan tôi thì thào: "Này, tớ đang làm đề án để trình xin được làm nhà máy thuỷ điện trên... sông Hồng ở đoạn cầu Long Biên đấy. Nếu "ông" Hà Nội đồng ý thì tớ đảm bảo Hà Nội không bao giờ thiếu điện mà giá điện sẽ giảm xuống một nửa so với hiện nay cho mà coi".

Tôi trố mắt nhìn ông. "Cậu không tin chứ gì?" - ông ngạc nhiên nhìn tôi. Nhìn sâu vào đôi mắt ông. Đôi mắt ấy giờ đây đã đục mờ. Bất chợt tôi nhận ra rằng, làm được hay không đâu có nghĩa lý gì, cái quan trọng là trong ông vẫn không bao giờ cạn kiệt tham vọng lớn. Chính cái tham vọng này đã làm nên một "vua lốp" mà những cơn sóng gió nghiệt ngã nhất của cuộc đời cũng không thể nào quật ngã được ông.

(Nguồn VietnamNet)​
 

Bài viết cần bạn xem thêm

Cảm ơn bạn đã thông tin.
Top